Giới thiệu lễ hội
Bộ nhận diện CI của Lễ hội Đom đóm

Bộ nhận diện CI của Lễ hội Đom đóm sử dụng kiểu chữ thư pháp mô phỏng hình ảnh đom đóm bay lượn, mang đến cảm giác gần gũi với thiên nhiên.
Nhân vật biểu trưng của Lễ hội Đom đóm

Ddori và Aro, nhân vật biểu trưng của Lễ hội Đom đóm, là những nhân vật sinh ra tại Seolcheon-myeon, huyện Muju, với mục tiêu cuộc sống là mang đến cho mọi người bốn giấc mơ.

Ddori & Aro đang bay

Ddori & Aro trượt ván và trượt tuyết

Ddori & Aro đang thám hiểm

Taekwondo! Ddori & Aro
Ca khúc chủ đề của Lễ hội Đom đóm
Hãy cùng Ddori và Aro lắng nghe ca khúc chủ đề của Lễ hội Đom đóm Muju
Xem lời bài hát
Câu chuyện về đom đóm - sứ giả của sự sống
- Đom đóm từ lâu đã được biết đến như một loài côn trùng giàu cảm xúc, gợi cho con người ký ức tuổi thơ và nỗi nhớ da diết.
- Gần đây, cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, số lượng môi trường sống cũng như quần thể đom đóm đang suy giảm do biến đổi và ô nhiễm môi trường. Vì vậy, đom đóm được nhận thức như một loài côn trùng kỳ diệu đóng vai trò chỉ báo môi trường. Tại Hàn Quốc, chỉ riêng Muju là nơi đom đóm được chỉ định và bảo vệ với tư cách Di tích Thiên nhiên số 322.
- Được biết, đom đóm đã tồn tại từ kỷ Tân sinh cách đây khoảng 50 đến 70 triệu năm. Trên thế giới có khoảng 2.100 loài đom đóm, phân bố gần như khắp nơi ngoại trừ Nam Cực và Bắc Cực. Ngoài ra, đom đóm còn được biết đến rộng rãi như một loài côn trùng mang lại sự ổn định cảm xúc cho con người và là loài côn trùng chỉ báo môi trường được dùng làm thước đo chất lượng môi trường.
- Tại Hàn Quốc, đom đóm thường được gọi bằng các tên địa phương như bandi, banditbul hay gaettongbeolle. Đây là phương ngữ được dùng theo từng vùng, còn cách gọi chính xác là “banditbul-i” (đom đóm). Từ “banditbul” chỉ ánh sáng do đom đóm phát ra. Ngoài ra, cái tên “gaettongbeolle” cũng có nhiều cách lý giải: có ý kiến cho rằng ngày xưa đom đóm nhiều đến mức phổ biến như phân chó; cũng có ý kiến cho rằng vì đom đóm ưa nơi ẩm ướt, nên khi phân chó hay phân bò còn ấm nguội dần sẽ tạo ra khoảng ẩm phía dưới, đom đóm ẩn nấp ở đó vào ban ngày rồi xuất hiện vào ban đêm, từ đó cái tên này ra đời.
- Tại Hàn Quốc, vào tháng 11 năm 1982, khu vực sinh sống của đom đóm và nguồn thức ăn của chúng (ốc suối) tại khu vực Seolcheon-myeon, Muju đã được chỉ định là Di tích Thiên nhiên số 322. Đến tháng 1 năm 2002, tên gọi được đổi thành khu vực sinh sống của đom đóm và nguồn thức ăn của chúng (ốc suối) tại Muju và được mở rộng, chỉ định thành 3 khu vực.
Phân loại và cấu tạo của đom đóm
- Về mặt phân loại học : Thuộc nhóm động vật không xương sống / ngành chân khớp / lớp côn trùng / bộ cánh cứng / họ đom đóm (Family Lampyridae), là sinh vật có khả năng tự phát sáng
- Chủng loại : Trên thế giới có hơn 2.000 loài, Hàn Quốc ghi nhận 8 loài, hiện đang sinh sống 3 loài và riêng huyện Muju có 3 loài.
| Phân họ đom đóm | Phân họ đom đóm nhỏ |
|---|---|
| Chi đom đóm hoa (Genus Lucidina Gorham) - đom đóm hoa (Lucidina sp. n. sp.) | Chi đom đóm nhỏ (Luciola lateralis Motschulsky) - đom đóm nhỏ (Lucidina sp. n. sp.), đom đóm nhỏ non (Lucidina sp.), đom đóm Unmunsan (Lucidina unmunsanaDoi) |
| Chi đom đóm phương bắc (Genus Lampyris Geoffroy) - đom đóm phương bắc (Lampyris noctiluca Linnaeus) | |
| Chi đom đóm muộn (Genus Lampyris Gorham) - đom đóm muộn (Pyrocoelia rufa) |
Tương tự các loài côn trùng thông thường, đom đóm có cơ thể chia thành 3 phần như đầu và bụng, có một cặp râu, mắt, 3 cặp chân và 2 cặp cánh.
Về cánh, mỗi loài đom đóm có đôi chút khác biệt. Ở con cái của loài đom đóm muộn hoặc đom đóm Unmunsan, cánh có thể tiêu giảm hoàn toàn chỉ còn dấu vết, hoặc chỉ cánh trong bị thoái hóa nên chỉ còn một cặp cánh. Loài paparibanditbul khác với các loài côn trùng khác ở chỗ có đặc điểm cơ thể riêng biệt đóng vai trò là bộ phận phát sáng.
Bộ phận phát sáng của đom đóm: con cái thường chỉ phát sáng ở đốt thứ 6 của phần bụng, còn con đực phát sáng ở hai đốt thứ 6 và thứ 7 của bụng.



Mục đích phát sáng : Mục đích chính của việc đom đóm phát sáng là để con cái phát tín hiệu tìm bạn đời và con đực tìm bạn tình, tạo nên thứ ánh sáng huyền bí của “tình yêu”. Ngoài ra, đó còn là phương tiện giao tiếp để tự vệ và cảnh báo nguy hiểm từ kẻ thù.
Cách phát sáng : Ánh sáng của đom đóm được tạo ra bởi các tế bào phát quang ở vùng bụng. Trong quá trình chất hóa học gọi là luciferin bị phân giải bởi năng lượng sinh học ATP và enzym phân giải luciferase, oxyluciferin và ánh sáng sẽ được tạo ra.
Cách phát sáng : Ánh sáng của đom đóm được tạo ra bởi các tế bào phát quang ở vùng bụng. Trong quá trình chất hóa học gọi là luciferin bị phân giải bởi năng lượng sinh học ATP và enzym phân giải luciferase, oxyluciferin và ánh sáng sẽ được tạo ra.
Vòng đời của đom đóm
| Trưởng thành (giữa tháng 6 ~ giữa tháng 7) | Trứng (cuối tháng 6 ~ tháng 7) | Ấu trùng (tháng 7 ~ tháng 4 năm sau) | Nhộng (tháng 5 ~ đầu tháng 6) |
|---|---|---|---|
| Tuổi thọ : khoảng 15 ngày | Nơi đẻ trứng : nơi ẩm, không có ánh nắng trực tiếp (cỏ, rêu) | Môi trường sống : sống dưới nước | Môi trường sống : buồng nhộng trong lòng đất |
| Thức ăn : sương đêm | Kích thước : 0.5m ~ 0.6m | Thức ăn : ăn ốc suối | Thời gian : khoảng 20 ngày |
| Hoạt động : chủ yếu hoạt động vào ban đêm | Nở : nở sau 20 ~ 25 ngày | Kích thước : 15 ~ 20mm | |
| Đẻ trứng : sau khi giao phối với con đực, con cái bắt đầu đẻ trứng từ 1 ~ 3 ngày sau và đẻ nhiều đợt, sau đó chết khi đã đẻ khoảng 200 ~ 300 trứng | Thời gian : khoảng 10 tháng |
| Trưởng thành (giữa tháng 6 ~ giữa tháng 7) | Tuổi thọ : khoảng 15 ngày | Thức ăn : sương đêm | Hoạt động : chủ yếu hoạt động vào ban đêm | Đẻ trứng : sau khi giao phối với con đực, con cái bắt đầu đẻ trứng từ 1 ~ 3 ngày sau và đẻ nhiều đợt, sau đó chết khi đã đẻ khoảng 200 ~ 300 trứng |
|---|---|---|---|---|
| Trứng (cuối tháng 6 ~ tháng 7) | Nơi đẻ trứng : nơi ẩm, không có ánh nắng trực tiếp (cỏ, rêu) | Kích thước : 0.5m ~ 0.6m | Nở : nở sau 20 ~ 25 ngày | |
| Ấu trùng (tháng 7 ~ tháng 4 năm sau) | Môi trường sống : sống dưới nước | Thức ăn : ăn ốc suối | Kích thước : 15 ~ 20mm | Thời gian : khoảng 10 tháng |
| Nhộng (tháng 5 ~ đầu tháng 6) | Môi trường sống : buồng nhộng trong lòng đất | Thời gian : khoảng 20 ngày |













